Đăng nhập

Kiến thức tham khảo: Bướu giáp đơn thuần

1/ Khái niệm: Bướu giáp đơn thuần là bướu giáp lan tỏa không độc hay phình giáp. Đây là sự phì đại lan tỏa của tuyến giáp không tạo thành nhân, không rối loạn chức năng tuyến trên lâm sàng và xét nghiệm.

Tần suất chiếm khoảng 70%  tổng số người bị bệnh tuyến giáp, đa số là nữ, có lẽ do liên quan đến tính tự miễn, di truyền và tăng nhu cầu iod khi mang thai.

2/ Nguyên nhân: 

a/ Thiếu hụt hoocmon tuyệt đối:

- Thiếu iod

- Khiếm khuyết di truyền trong tổng hợp hocmon giáp

- Nhiễm khuẩn

- Thừa iod

- Thuốc kháng Hoocmon giáp

- Thải quá nhiều hoocmon giáp: Hội chứng thận hư

b/ Thiếu hụt hoocmon giáp tương đối:

- Nhu cầu hoocmon giáp tăng khi dậy thì, mang thai

c/ Yếu tố miễn dịch.

3/ Triệu chứng:
* Thường không có triệu chứng và phát hiện tình cờ

- Khám tháy bướu lan tỏa, to cân đối 2 bên, không đau, mềm, sờ không thấy nhân

- Mật độ bướu có thể gồ gề, không đều, nếu bướu đã tiến triển nhiều năm do hình thành các nhân

- Giới hạn của bướu khá rõ

- Không phải bướu mạch

* Phân độ lớn của bướu trên lâm sàng theo WHO:

- Độ 0: không có bướu

- Độ I A: mỗi thùy tuyến to hơn 1 đốt ngón tay của người bệnh, chỉ cảm nhận được bướu khi sờ nắn

- Độ IB: Nhìn thấy bướu khi người bệnh ngửa đầu tối đa

- Độ II: nhìn thấy bướu khi đứng gần, đầu người bệnh ở tư thế bình thường

- Độ III: Bướu giáp lớn, nhìn thấy từ xa, làm biến dạng cổ

4/ Tiến triển và Biến chứng:

- Bướu có thể tự khỏi hoặc giảm tiến triển sau điều trị, giữ kích thước ban đầu trong nhiều năm và có thể tăng kích thước khi dậy thì, có thai, mãn kinh

* Quá trình tiến triển có thể gặp các biến chứng sau:

- Chèn ép: thực quản, khí quản, tĩnh mạch cổ ngực, gây khó nuốt, khó thở

- Xuất huyết: thình lình sưng và đau khu trú do xuất huyết trong nhân

- Nhiễm khuẩn: viêm do vi trùng, áp xe tuyến giáp. Da vùng bướu nóng đỏ, bướu to và đau, bệnh nhân sốt và bạch cầu đa nhân.

- Cường giáp: 

- Suy giáp

- Ung thư hóa: hiếm gặp

5/ Điều trị:

- Điều trị nguyên nhân

Xem thêm sản phẩm

Bài viết liên quan